Tàu chở dầu Nga ùn ứ khắp đại dương, giá trị xuất khẩu chạm đáy lịch sử
(Thị trường tài chính) - Ít nhất 12 tàu chở dầu Urals của Nga đang neo đậu ngoài khơi bờ biển Oman trong khi nhiều tàu khác neo đậu gần Trung Quốc, cho thấy tình trạng tắc nghẽn nghiêm trọng trong chuỗi cung ứng dầu mỏ của Moscow.
Hàng chục tàu chở dầu thô của Nga đang bị ứ đọng trên biển mà không tìm được nơi bốc dỡ. Tình trạng này xảy ra trong bối cảnh Moscow đang nỗ lực khôi phục thị trường Ấn Độ - thị trường từng cứu vãn hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của nước này sau khi các nhà nhập khẩu châu Âu quay lưng do cuộc xung đột Ukraine.
Mặc dù khối lượng xuất khẩu vẫn duy trì ở mức tương đối ổn định, song giá trị các lô hàng đang giảm mạnh. Trong bốn tuần tính đến ngày 11/1, Nga đã xuất khẩu 3,42 triệu thùng dầu mỗi ngày - chỉ thấp hơn 30.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, con số này đã giảm khoảng 450.000 thùng/ngày so với mức đỉnh trước thời điểm Giáng sinh.
Đáng lo ngại hơn, giá dầu đã giảm liên tiếp trong 15 tuần. Kết hợp với sự sụt giảm về khối lượng, điều này đã đẩy giá trị các lô hàng xuống mức thấp kỷ lục kể từ khi cuộc xung đột bùng nổ.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất mà Moscow phải đối mặt hiện nay không phải là đưa dầu thô lên tàu, mà là làm sao bốc dỡ hàng xuống. Ít nhất 12 tàu chở đầy dầu thô Urals đang neo đậu ngoài khơi bờ biển phía nam Oman, trong đó một số tàn đã nằm im từ giữa tháng 12. Tình trạng này ngày càng trầm trọng khi gần như mỗi ngày đều có thêm tàu mới đến. Không chỉ vậy, hàng loạt tàu cũng đang bị ứ đọng trong nhiều tuần tại vùng biển ngoài khơi Biển Ả Rập và nhiều khu vực khác ngoài khơi bờ biển Trung Quốc, cho thấy quy mô thực sự của cuộc khủng hoảng logistics mà ngành dầu mỏ Nga đang phải đương đầu.
Thị trường Ấn Độ thu hẹp, Trung Quốc trở thành điểm đến chính
Sự thay đổi trong tuyến vận chuyển phản ánh rõ nét qua hoạt động tại cảng Murmansk ở Bắc Cực. Hầu hết các chuyến hàng từ cảng này hiện nay đều hướng đến Trung Quốc, trong khi mới vào tháng 7, 80% tàu chở dầu rời cảng vẫn vận chuyển hàng hóa đến Ấn Độ hoặc Syria.
Sự thay đổi này xuất phát từ hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, thị trường Syria đã biến mất sau sự sụp đổ của chính quyền Bashar al-Assad. Thứ hai, các nhà nhập khẩu Ấn Độ đang tránh mua dầu từ các công ty Nga bị trừng phạt, bao gồm Gazprom Neft PJSC và Lukoil PJSC - những công ty chính vận chuyển dầu từ Murmansk.

Bên cạnh đó, áp lực lên Moscow càng trở nên nghiêm trọng khi Mỹ đang thúc đẩy dự luật cho phép Tổng thống Donald Trump trừng phạt các quốc gia mua dầu giá rẻ của Nga. Đồng thời, Nhà Trắng cũng chủ động hơn trong việc ngăn chặn dòng dầu bị trừng phạt.
Cho đến nay, các biện pháp mạnh tay mới chỉ áp dụng với Venezuela, với việc phong tỏa các tàu chở dầu đến và đi từ nước này, cùng việc bắt giữ năm tàu liên quan đến dòng dầu thô Venezuela. Chưa có động thái tương tự đối với các tàu chở dầu của Moscow, nhưng đội tàu ngầm này rất linh hoạt, với nhiều tàu phục vụ cả Nga, Iran và Venezuela. Đáng chú ý, ít nhất một trong những tàu bị bắt giữ mang cờ Nga.
Trong khi đó, các tàu chở dầu ở Biển Đen tiếp tục đối mặt với nguy cơ tấn công bằng máy bay không người lái. Tuần trước, tàu Elbus mang cờ Palau đã bị tấn công cách bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 30 dặm, mặc dù con tàu đang đi theo tuyến đường dọc bờ biển phía nam Biển Đen - tuyến đường được cho là an toàn hơn sau khi một số tàu bị tấn công ở phía bắc. Gần đây hơn, các tàu chở dầu tiếp tục bị tấn công gần nhà ga xếp dỡ quan trọng của CPC, gần cảng Novorossiysk.
Bối cảnh vĩ mô ảm đạm
Tất cả những khó khăn trên diễn ra trong bối cảnh sản lượng dầu của Nga đang có xu hướng giảm. Sản lượng đã giảm mạnh nhất trong 18 tháng vào tháng 12, thấp hơn gần 250.000 thùng mỗi ngày so với mục tiêu sản lượng OPEC+ của nước này trong tháng đó. Điều này cho thấy Moscow đang phải đối mặt với những thách thức kép: vừa khó khăn trong việc sản xuất, vừa gặp trở ngại lớn trong việc xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm.
Theo dữ liệu theo dõi tàu và báo cáo từ các đại lý cảng, tổng cộng 29 tàu chở dầu đã bốc dỡ 21,87 triệu thùng dầu thô của Nga trong tuần kết thúc ngày 11/1. Con số này giảm so với 22,2 triệu thùng trên 31 tàu của tuần trước đó (sau điều chỉnh).
Tính theo mức trung bình hàng ngày, lượng dầu vận chuyển trong tuần kết thúc ngày 11/1 đã giảm xuống còn 3,12 triệu thùng/ngày - giảm khoảng 50.000 thùng/ngày so với tuần trước và giảm tới 920.000 thùng/ngày so với tuần kết thúc ngày 21/12.
Luồng hàng hóa đang biến động mạnh do chịu tác động từ nhiều yếu tố, bao gồm thời tiết, lệnh trừng phạt và thời điểm vận chuyển. Đáng chú ý, thời tiết xấu có thể đã ảnh hưởng đến hoạt động bốc xếp tại Kozmino trong những tuần gần đây. Gió giật mạnh trên 40 dặm/giờ vào cuối tuần trước đã trùng với thời điểm tạm dừng vận chuyển hàng hóa tại đây.
Tính trung bình trong bốn tuần, tổng giá trị xuất khẩu của Moscow đã giảm xuống còn 950 triệu USD/tuần trong 28 ngày tính đến ngày 11/1, giảm 2% so với con số đã điều chỉnh của giai đoạn đến ngày 4/1. Đây là tuần thứ 15 liên tiếp giá trung bình giảm.
Với cả giá cả và khối lượng xuất khẩu đều sụt giảm, giá trị hàng hóa xuất khẩu đã rơi xuống mức thấp kỷ lục kể từ ít nhất thời điểm Nga bắt đầu cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2/2022.
Theo số liệu từ Argus Media, giá xuất khẩu dầu Urals của Nga từ vùng Baltic giảm khoảng 0,40 USD xuống còn 36,28 USD/thùng, trong khi giá dầu từ Biển Đen giảm khoảng 0,60 USD/thùng xuống còn 34,23 USD/thùng. Đặc biệt, giá dầu thô ESPO Thái Bình Dương giảm mạnh 0,90 USD xuống mức trung bình 46,64 USD/thùng.
Đáng lo ngại nhất là giá giao hàng tại Ấn Độ - thị trường quan trọng của Nga - đã giảm 0,20 USD xuống còn 54,44 USD/thùng, đánh dấu mức thấp kỷ lục mới kể từ tháng 3/2023.
Tính theo tuần, giá trị xuất khẩu trung bình đạt khoảng 869 triệu USD trong 7 ngày tính đến ngày 11/1, không thay đổi so với tuần trước. Sự ổn định này đạt được nhờ sự tăng nhẹ về giá ở hầu hết các mặt hàng đã bù đắp cho sự sụt giảm về khối lượng xuất khẩu.
Nhìn chung, các con số trên cho thấy ngành dầu mỏ Nga đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng và chưa có dấu hiệu cải thiện trong ngắn hạn.
Những điểm đến của "dòng chảy dầu" Moscow
Lượng dầu vận chuyển đến các khách hàng châu Á của Nga, bao gồm cả những lô hàng không ghi rõ điểm đến cuối cùng, đã giảm xuống còn 3,18 triệu thùng/ngày trong 28 ngày tính đến ngày 11/1, giảm so với 3,28 triệu thùng trong giai đoạn tính đến ngày 4/1.

Mặc dù lượng dầu thô hướng đến hai thị trường chính là Trung Quốc và Ấn Độ đang giảm mạnh, xu hướng này phần lớn đã bị đảo ngược do lượng hàng ngày càng tăng trên các tàu chưa chỉ định điểm đến cuối cùng. Cụ thể, lượng dầu hướng đến các cảng Trung Quốc giảm từ 970.000 thùng/ngày xuống còn 830.000 thùng/ngày, trong khi lượng dầu đến Ấn Độ sụt giảm mạnh hơn từ 790.000 thùng/ngày xuống còn 510.000 thùng/ngày trong bốn tuần tính đến ngày 11/1.
Điều đáng chú ý là lượng dầu thô trên các tàu chưa ghi rõ điểm đến cuối cùng hiện đã nhiều hơn tổng lượng dầu trên các tàu đang báo hiệu hướng đến Trung Quốc, Ấn Độ hoặc Thổ Nhĩ Kỳ cộng lại. Các tàu chở dầu ngày càng hiển thị các điểm đến tạm thời cho đến khi chúng đi sâu qua Biển Ả Rập, trong khi một số tàu thậm chí không bao giờ hiển thị điểm đến cuối cùng, ngay cả sau khi đã neo đậu để dỡ hàng.
Con số cho thấy tình trạng thiếu minh bạch nghiêm trọng: có tới 1,84 triệu thùng/ngày dầu thô đang trên các tàu chưa xác định điểm đến cuối cùng. Trong số này, khoảng 1,56 triệu thùng/ngày đang được vận chuyển trên các tàu từ các cảng phía tây của Nga có điểm đến ghi là Port Said hoặc kênh đào Suez, hoặc các tàu từ các cảng Thái Bình Dương không có điểm giao hàng rõ ràng. Thêm vào đó, 290.000 thùng/ngày đang được vận chuyển trên các tàu chưa báo hiệu bất kỳ điểm đến nào.
Các tàu cũng phải ở trên biển lâu hơn đáng kể. Một số tàu chở dầu phải chuyển hướng khỏi điểm đến ban đầu ở bờ biển phía tây Ấn Độ hoặc Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi nhiều tàu khác bị giữ lại khi chờ dỡ hàng tại các cảng của Trung Quốc và Ấn Độ.
Sự gia tăng các lô hàng không rõ điểm đến và thời gian lưu trú kéo dài phản ánh những khó khăn ngày càng lớn của Nga trong việc tìm kiếm người mua sẵn sàng công khai nhận dầu, đồng thời cho thấy các nỗ lực ngày càng tinh vi để lách qua các lệnh trừng phạt quốc tế.
Lượng dầu vận chuyển đến Thổ Nhĩ Kỳ trong bốn tuần tính đến ngày 11/1 đã tăng vọt lên khoảng 200.000 thùng/ngày, tăng đáng kể so với con số đã được điều chỉnh là 130.000 thùng/ngày trong giai đoạn đến ngày 4/1.
Đáng chú ý, một lô hàng dầu thô của Nga đã được vận chuyển đến Syria vào tuần cuối cùng của tháng 12 - chuyến đầu tiên trong ba tháng. Tuy nhiên, việc theo dõi các lô hàng đến quốc gia phía đông Địa Trung Hải này vẫn vô cùng khó khăn. Các tàu chở dầu thô của Nga đến Syria hiếm khi báo hiệu điểm đến và thường biến mất khỏi hệ thống theo dõi tự động khi chúng ở phía nam đảo Crete. Điều này khiến việc ước tính lưu lượng trước khi tàu đến ngoài khơi cảng Baniyas - nơi chúng thường có thể được phát hiện trên ảnh vệ tinh - trở nên rất khó khăn.
Cần lưu ý rằng tất cả các số liệu trên đều không bao gồm các lô hàng được xác định là loại KEBCO của Kazakhstan. Đây là những lô hàng do Công ty Cổ phần KazTransOil vận chuyển, quá cảnh qua Nga để xuất khẩu qua Novorossiysk và Ust-Luga, nhưng không chịu lệnh trừng phạt của Liên minh Châu Âu hoặc mức giá trần.
Dầu thô của Kazakhstan thường được pha trộn với dầu thô có nguồn gốc từ Nga để tạo ra một dòng xuất khẩu đồng nhất. Kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, Kazakhstan đã đổi tên các lô hàng của mình thành KEBCO để phân biệt rõ ràng với các lô hàng do các công ty Nga vận chuyển, nhằm tránh bị ảnh hưởng bởi các lệnh trừng phạt quốc tế nhắm vào Moscow.
Tham khảo World Oil, CNBC





