Nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á quyết không nhập khẩu gạo, ngô và đường năm 2026: Việt Nam có lo thất thu?
(Thị trường tài chính) - Với mức tiêu thụ gạo bình quân hằng tháng ước khoảng 2,591 triệu tấn, riêng lượng tồn kho hiện tại đã có thể đáp ứng gần 5 tháng nhu cầu của người dân Indonesia.
Vì sao Indonesia đề ra chiến lược không mua nhiều loại nông sản nước ngoài?
Indonesia - nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á sẽ không nhập khẩu các mặt hàng lương thực chiến lược trong năm 2026 do lượng tồn kho từ năm nay vẫn đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu trong nước, Cơ quan Lương thực Quốc gia (Bapanas) tuyên bố,.
Ông I Gusti Ketut Astawa, Phó Trưởng ban phụ trách Bảo đảm và Bình ổn nguồn cung lương thực cho biết triển vọng an ninh lương thực của Indonesia trong năm 2026 là an toàn và tự chủ, cho phép Chính phủ “xứ sở vạn đảo” duy trì chính sách không nhập khẩu đối với các mặt hàng chủ chốt.
“Trên tinh thần đồng thuận và thống nhất, Chính phủ đã quyết định rằng không cần nhập khẩu gạo, đường tiêu dùng và ngô làm thức ăn chăn nuôi trong năm 2026. Nguồn cung và sản xuất trong nước hiện đã dồi dào và đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân”, ông Ketut nói.

Theo dữ liệu của Bapanas, lượng gạo tồn kho chuyển sang đầu năm 2026 của Indonesia đã đạt 12,529 triệu tấn, bao gồm 3,248 triệu tấn dự trữ gạo quốc gia do cơ quan hậu cần Nhà nước Bulog quản lý. Với mức tiêu thụ bình quân hằng tháng ước tính khoảng 2,591 triệu tấn, riêng lượng gạo tồn kho hiện có đã có thể đáp ứng gần 5 tháng nhu cầu của 286 triệu người dân nước này.
Khi cộng với sản lượng gạo dự kiến năm 2026 là 34,7 triệu tấn, lượng tồn kho cuối năm nay sẽ tăng lên 16,194 triệu tấn.
Nguồn cung ngô của Indonesia cũng được đánh giá là dồi dào. Lượng dự trữ đầu kỳ đạt 4,521 triệu tấn sẽ đủ đáp ứng khoảng 3 tháng nhu cầu, dựa trên mức tiêu thụ hằng tháng vào khoảng 1,421 triệu tấn. Với sản lượng cả năm ước tính đạt 18 triệu tấn, lượng dự trữ ngô cuối năm 2026 dự kiến ở mức 4,581 triệu tấn. Indonesia thậm chí được kỳ vọng sẽ nối lại việc xuất khẩu ngô vào năm tới, với khối lượng khoảng 52.900 tấn, trong khi việc nhập khẩu ngô làm thức ăn chăn nuôi, giống và tiêu dùng hộ gia đình đều bị loại trừ.

Tình hình tương tự cũng được Indonesia áp dụng đối với đường. Lượng đường tiêu dùng tồn kho ban đầu là 1,437 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu tối đa 6 tháng mà không cần nhập khẩu. Sản lượng đường trong nước năm 2026 ước đạt 2,72 triệu tấn, đưa lượng tồn kho cuối năm lên khoảng 1,32 triệu tấn. Việc nhập khẩu đường trong năm tới của quốc gia có đến hơn 17.000 hòn đảo cũng đã bị loại bỏ.
“Indonesia cũng không còn cần nhập khẩu hành tím, ớt, trứng gà và thịt gà công nghiệp. Chúng ta đã tự chủ. Năng lực sản xuất của nông dân và người chăn nuôi rất mạnh”, ông Ketut nói thêm.
Trước đó, người đứng đầu Bapanas kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Indonesia - Andi Amran Sulaiman cho biết chính sách không nhập khẩu nhiều mặt hàng nông nghiệp chủ lực phản ánh sự ủng hộ mạnh mẽ của Chính phủ đối với các nhà sản xuất trong nước.
“Nông dân và người chăn nuôi của chúng ta không được phép chịu thua lỗ. Họ phải được thịnh vượng. Thành quả lao động vất vả của họ phải được phân phối rộng rãi để đáp ứng nhu cầu của người dân Indonesia”, ông Amran quả quyết.
Chính phủ Indonesia lạc quan rằng việc tự chủ lương thực trong năm 2026 không chỉ bảo đảm nguồn dự trữ quốc gia mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu đối với các mặt hàng như gạo và ngô.
Việt Nam chịu ảnh hưởng ra sao?
Chính sách không nhập khẩu gạo, ngô và đường của Indonesia trong năm 2026 sẽ có tác động đáng kể đến Việt Nam, cả theo hướng bất lợi ngắn hạn lẫn cơ hội điều chỉnh chiến lược dài hạn.
Cụ thể, xét đến tác động đối với gạo Việt Nam (ảnh hưởng rõ nhất), Chính sách không nhập khẩu gạo (zero import 2026) của Indonesia đồng nghĩa với việc Việt Nam mất một thị trường tiêu thụ quan trọng, nhất là đối với gạo trắng và gạo cấp trung. Nếu các thị trường khác không hấp thụ kịp, có thể tạo áp lực dư cung trong nước và gây sức ép giảm giá xuất khẩu trong ngắn hạn.

Về tác động trung và dài hạn, việc Indonesia không nhập khẩu gạo năm nay buộc doanh nghiệp Việt phải chuyển hướng sang Philippines, Trung Quốc, châu Phi và Trung Đông; đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao, gạo thơm, gạo đặc sản thay vì chạy theo số lượng lớn; giảm dần phụ thuộc vào các thị trường “bật – tắt theo chính sách” như Indonesia.
Trong khi đó, Việt Nam không phải nước xuất khẩu ngô lớn, ngược lại còn nhập khẩu nhiều ngô làm thức ăn chăn nuôi. Việc Indonesia, dư thừa loại nông sản này và có thể xuất khẩu trở lại có thể làm giá ngô khu vực ASEAN giảm, có lợi cho Việt Nam ở góc độ nhập khẩu nguyên liệu chăn nuôi.
Điều này cũng có thể tạo sự cạnh tranh nhẹ nếu Việt Nam xuất khẩu ngô tiểu ngạch (không đáng kể). Nhìn chung, việc Indonesia không nhập khẩu ngô và có thể xuất khẩu mặt hàng này có tác động tích cực nhẹ cho Việt Nam.
Trong khi đó, với việc Indonesia không nhập khẩu đường trong năm nay, điều này ít tác động trực tiếp đối với đường Việt Nam nhưng cũng cần lưu ý.
Indonesia chủ yếu nhập đường từ Brazil và Thái Lan, nước này không phải là thị trường lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, khi Indonesia tự chủ đường, nguồn sản phẩm dư thừa trong khu vực (đặc biệt từ Thái Lan) có thể tìm đường sang Việt Nam (chính ngạch hoặc buôn lậu), gây áp lực cạnh tranh lên ngành mía đường trong nước. Vì lẽ đó, Việt Nam cần siết chặt phòng vệ thương mại và chống buôn lậu đường.
Xét về tác động chiến lược lớn hơn của việc cạnh tranh tự chủ lương thực trong khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Indonesia đang đi theo hướng dự trữ lớn, bảo hộ sản xuất nội địa và chỉ nhập khẩu khi bất khả kháng.
Điều này khiến vai trò của Việt Nam với tư cách “nhà cung ứng khẩn cấp” cho ASEAN giảm dần, cạnh tranh xuất khẩu gạo trong khu vực Đông Nam Á trở nên gay gắt hơn (nhất là khi Indonesia có thể quay sang xuất khẩu mặt hàng này trong vài năm tới).
Vì lẽ đó, xét về ngắn hạn, Việt Nam không nên trông chờ Indonesia mở cửa nhập khẩu các loại nông sản, đặc biệt là gạo; đồng thời đa dạng hóa thị trường, tránh phụ thuộc vào 1 - 2 khách hàng lớn.
Xét về trung và dài hạn, Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu gạo có chất lượng cao, phát thải thấp, truy xuất nguồn gốc; tận dụng tốt hợp đồng dài hạn với Philippines, Trung Đông và châu Phi; giảm sản lượng gạo cấp thấp, tăng giá trị trên mỗi tấn.
Theo Jakarta Globe





