Từ nay, người lao động có thể được hỗ trợ vay vốn tối đa 200 triệu đồng trong thời hạn 120 tháng
(Thị trường tài chính) - Đây là nội dung được quy định tại Nghị định số 338/2025/NĐ-CP, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026, quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm. Nghị định tập trung làm rõ các nội dung liên quan đến cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, với nhiều điểm mới đáng chú ý.
Đối tượng áp dụng của Nghị định gồm người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và nhu cầu làm việc; trường hợp lao động chưa thành niên phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Lao động. Bên cạnh đó, chính sách còn áp dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh (sau đây gọi chung là cơ sở sản xuất, kinh doanh), cùng các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Về chính sách cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, Nghị định quy định cụ thể mức vay đối với từng nhóm đối tượng. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa là 10 tỷ đồng và không quá 200 triệu đồng cho 01 người lao động được hỗ trợ tạo việc làm, duy trì hoặc mở rộng việc làm. Đối với người lao động, mức vay tối đa là 200 triệu đồng.
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức vay tối đa cao hơn so với các mức nêu trên đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội.

Nghị định cũng quy định tổng dư nợ của các dự án vay vốn với mục đích hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm của cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc người lao động tại Ngân hàng Chính sách xã hội, tại cùng một thời điểm, không được vượt quá mức cho vay tối đa theo quy định. Căn cứ nguồn vốn và khả năng trả nợ của từng đối tượng vay vốn, Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ thỏa thuận, thống nhất để xem xét và quyết định mức vay cụ thể.
Theo Bộ Nội vụ, việc nâng mức vay nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh và người lao động. Đồng thời, quy định này góp phần thể chế hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và phù hợp với Chiến lược phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội đến năm 2030 với mục tiêu “nâng mức cho vay, thời hạn cho vay phù hợp với mục tiêu các chương trình mục tiêu quốc gia và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước”.
Về thời hạn vay vốn, Nghị định quy định thời hạn vay tối đa là 120 tháng. Thời hạn vay cụ thể sẽ do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, căn cứ vào nguồn vốn và khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thỏa thuận với người vay.
Liên quan đến lãi suất vay vốn, đối với đối tượng vay vốn quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật số 74/2025/QH15, lãi suất vay bằng 127% lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Đối với các đối tượng vay vốn quy định tại khoản 3 và khoản 8 Điều 9 Luật số 74/2025/QH15, lãi suất vay bằng lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ. Trường hợp nợ quá hạn, lãi suất áp dụng bằng 130% lãi suất vay vốn theo các mức nêu trên.
Về điều kiện bảo đảm tiền vay, đối với các khoản vay trên 200 triệu đồng, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức vay phải thực hiện bảo đảm tiền vay cao hơn mức quy định đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội.





