Gia đình hiếm hoi 3 đời đỗ Trạng nguyên: Là ‘thần đồng’ tài năng xuất chúng, có thể làm 100 bài thơ liền lúc

Hải Châu

(Thị trường tài chính) - Đây là gia đình khoa bảng lừng danh trong lịch sử phong kiến nước ta.

Theo gia phả họ Hồ Tam Công, Hồ Tông Thốc sinh năm Giáp Tý (1324). Thuở nhỏ, ông mang tên Hồ Giác Thiết, sau còn được gọi là Hồ Tông Xác. Ông nội của Hồ Tông Thốc là cụ Hồ Kha - cháu đời thứ 13 của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật.

Năm 1341, khi mới 17 tuổi, Hồ Tông Thốc thi đỗ Trạng nguyên, mở đầu cho truyền thống khoa bảng rực rỡ của một thế gia vọng tộc với nhiều nhân tài xuất chúng. Nối tiếp ông, con trai là Hồ Tông Đốn và cháu ruột là Hồ Tông Thành cũng đều đỗ Trạng nguyên. Đây là trường hợp duy nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam có 3 thế hệ liên tiếp đạt đến đỉnh cao vinh hiển này.

Nhắc đến gia đình và dòng họ của ông, người dân xứ Nghệ lưu truyền câu ca: “Một nhà ba Trạng nguyên ngồi/ Một gương từ mẫu mấy đời soi chung”.

Gia đình hiếm hoi 3 đời đỗ Trạng nguyên: Là ‘thần đồng’ tài năng xuất chúng, có thể làm 100 bài thơ liền lúc - ảnh 1

Hồ Tông Thốc nổi tiếng là con nhà nghèo ham học và học giỏi, được xem là thần đồng. Ảnh minh họa

“Thần đồng văn học” có khả năng làm liền 100 bài thơ

Thuở nhỏ, Hồ Tông Thốc nổi tiếng là con nhà nghèo nhưng ham học và học rất giỏi, được xem là thần đồng. Ông sống cùng cha tại làng Trang Cuội (nay thuộc huyện Yên Thành, Nghệ An). Lớn lên, ông được cha gửi ra học một thầy đồ ở huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Nhờ thông minh, trí nhớ đặc biệt tốt, lại giỏi thơ văn, Hồ Tông Thốc sớm nổi danh hay chữ và được thầy hết mực yêu mến.

Theo sách “Kể chuyện thần đồng Việt Nam”, vào dịp Tết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng), một vị quan lớn họ Lê treo đèn, mở tiệc, mời các văn nhân đến nhà bình thơ. Khách văn chương kéo đến đông đủ, những người nổi tiếng về thi phú đều có mặt. Hồ Tông Thốc khi ấy còn nhỏ nhưng cũng đến dự. Khi đề thơ vừa được đưa ra, trong lúc mọi người còn đang suy nghĩ, ông đã làm liền một mạch 100 bài thơ.

Đến khi bình thơ, cả trăm bài của Hồ Tông Thốc đều được đánh giá xuất sắc, không bài nào kém bài nào, vượt trội hẳn so với các sáng tác khác. Từ đó, tiếng tăm của ông vang danh khắp vùng, giới văn nhân ai nấy đều kính phục.

Một lần khác, Hồ Tông Thốc cùng bạn bè đi chơi, bất ngờ gặp một cô gái xinh đẹp. Mọi người trầm trồ khen ngợi nhưng không ai dám đến gần, chỉ riêng Hồ Tông Thốc mỉm cười bình thản. Bạn bè thách ông thử làm quen, ông cười lớn nói: “Nói chuyện thì có gì khó, ta sẽ lấy cô ấy làm vợ”.

Sau khi dò hỏi biết cô gái là con của một vị quan lớn, Hồ Tông Thốc xin nghỉ học ít hôm, cải trang thành một viên quan nhỏ, đến ở nhờ gần nhà để tìm cơ hội gặp gỡ, trò chuyện. Qua thời gian, cô gái dần cảm mến tài văn chương và phong thái của chàng trai trẻ, hai người nảy sinh tình cảm lúc nào không hay. Sau này, khi đã đỗ Trạng nguyên, Hồ Tông Thốc quay lại xin phép vị quan lớn cho cưới người mình yêu.

Sở hữu trí tuệ, bản lĩnh và khí phách hơn người

Sau khi đỗ đạt, Hồ Tông Thốc được triều đình trọng dụng, bổ nhiệm làm An phủ sứ, thường xuyên được vua triệu kiến để tiếp sứ thần, rồi nhiều lần được phái dẫn đầu các đoàn đi sứ sang Trung Quốc.

Theo sách “Văn đàn bảo giám”, trong một chuyến đi sứ nhà Nguyên, thuyền của đoàn sứ bộ Đại Việt đi trên sông Ô Giang, ngang qua miếu thờ Hạng Vũ - vị hổ tướng lừng danh trong lịch sử Trung Quốc. Theo lệ, người qua đây đều phải đốt hương và vàng mã để tỏ lòng tôn kính, nhưng riêng Hồ Tông Thốc cho thuyền đi thẳng.

Gia đình hiếm hoi 3 đời đỗ Trạng nguyên: Là ‘thần đồng’ tài năng xuất chúng, có thể làm 100 bài thơ liền lúc - ảnh 2

Về việc 3 thế hệ ông - con - cháu liên tiếp đỗ Trạng nguyên, được nhiều sách, nhiều đời nhắc đến. Ảnh minh họa

Ngay sau đó, trời nổi gió lớn, sóng sông cuồn cuộn. Hồ Tông Thốc vẫn bình thản đứng ở mũi thuyền, đọc lớn bài thơ: “Chẳng phải vua chẳng phải tôi/ Bên sông miếu mạo để thờ ai/ Giang Đông ngày ấy còn chê nhỏ/ Tiền giấy nay sao lại cố đòi?”.

Bài thơ xuất phát từ điển tích về Hạng Vũ. Xưa kia, Hạng Vũ từng đánh bại Lưu Bang nhiều trận, nhưng cuối cùng lại thua ở Cai Hạ. Khi thất thế, ông uống rượu từ biệt nàng Ngu Cơ, chạy đến sông Ô Giang. Có người khuyên ông sang Giang Đông lập lại cơ nghiệp, nhưng Hạng Vũ chê đất hẹp, quay lại giao chiến và cuối cùng tự vẫn.

Sau đó, Hồ Tông Thốc còn làm thêm một bài thơ khác luận về sự nghiệp và khí phách của Hạng Vũ, rồi dán tại miếu thờ. Từ đó, người qua miếu không còn đốt vàng mã nữa.

Sách “Giai thoại Lịch sử Việt Nam” còn chép thêm chuyện Hồ Tông Thốc bàn về thơ của Vương Bột - người được tôn là thi bá Trung Quốc. Chuyện kể rằng, đô đốc Hồng Châu muốn khoe tài văn chương của con rể nên mở hội thơ, bảo ông ta viết bài “Tựa gác Đằng Vương”, rồi mới mời khách sáng tác.

Trong lúc mọi người còn do dự, Vương Bột đã viết liền bốn câu, trong đó có hai câu được xem là tuyệt cú: “Lạc hà dự cô vụ tề phi/ Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”. Nghĩa là: “Ráng chiều cùng cánh cò cô độc bay lên/ Nước thu với trời xanh một sắc”.

Nhiều năm sau khi Vương Bột qua đời, người Trung Quốc vẫn thường ngâm hai câu thơ ấy trước mộ ông. Nghe chuyện này, Hồ Tông Thốc liền nói: “Có gì mà tuyệt cú! Câu nào cũng thừa một chữ. Đã ‘dự’ sao còn ‘tề’, đã ‘cộng’ sao còn ‘nhất’?”.

Thấy mọi người ngạc nhiên, ông giải thích rằng trong chữ Hán, “dự” với “tề”, “cộng” với “nhất” vốn có nghĩa tương đương nhau. Từ đó, trong vùng không còn ai nghe tiếng ngâm thơ Vương Bột trước mộ nữa.

Tin tức

Tin đọc nhiều