Dòng sông hiếm hoi chảy ngược từ Việt Nam sang Trung Quốc: Khởi nguồn từ đỉnh núi 1.200m, vận chuyển 628.000 tấn phù sa mỗi năm

Bảo Lam

(Thị trường tài chính) - Đây là con sông lớn nhất của Lạng Sơn cũng như khu vực miền núi Đông Bắc, có chiều dài 243km, diện tích lưu vực 6.660km².

Sông Kỳ Cùng là dòng sông lớn và tiêu biểu của tỉnh Lạng Sơn, có chiều dài 243km trong lãnh thổ Việt Nam. Khác với phần lớn các con sông ở miền Bắc có hướng chảy Tây Bắc - Đông Nam để đổ ra biển Đông, sông Kỳ Cùng lại mang hướng chảy hiếm gặp Đông Nam - Tây Bắc, xuôi ngược lên Trung Quốc.

Sách “Địa chí Lạng Sơn” (NXB Chính trị Quốc gia - 1999) ghi: “Sông Kỳ Cùng là sông lớn nhất của Lạng Sơn cũng như của khu vực miền núi Đông Bắc, có chiều dài 243km, diện tích lưu vực 6.660km2… Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa, ở huyện Đình Lập, chảy từ Đông Nam lên Tây Bắc theo hướng dốc của địa hình qua Lộc Bình, Điềm He, Na Sầm, Thất Khê.

Tại đây sông Kỳ Cùng uốn khúc chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam tới biên giới Trung Quốc, đổ vào lưu vực sông Tây Giang”.

Dòng sông hiếm hoi chảy ngược từ Việt Nam sang Trung Quốc: Khởi nguồn từ đỉnh núi 1.200m, vận chuyển 628.000 tấn phù sa mỗi năm - ảnh 1
Sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn cũ. Ảnh: Thuận Bùi

Cụ thể hơn, sông Kỳ Cùng khởi nguồn ở độ cao khoảng 1.166m tại vùng núi Bắc Xa, rồi chảy qua khu vực thành phố Lạng Sơn (cũ). Khi cách trung tâm khu vực này khoảng 22km, dòng sông chuyển hướng từ Nam - Bắc, chảy qua thị trấn Văn Lãng (cũ), sau đó tiếp tục đổi hướng Đông Nam - Tây Bắc. Đến gần thị trấn Thất Khê (cũ), sông rẽ sang hướng Đông, tạo thành vòng cung lớn trước khi vượt biên giới, hợp lưu với sông Bằng Giang tại thị trấn Long Châu, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc).

Trên toàn bộ chiều dài chảy qua địa phận Lạng Sơn, sông Kỳ Cùng có nhiều đoạn gần như thẳng, bám theo một dải trũng đặc biệt trên địa hình, được gọi là Máng trũng Cao Lạng. Đây là khu vực gắn với hệ đứt gãy địa chất sâu, có hoạt tính cao và được các nhà khoa học đánh giá là nơi tiềm ẩn nguy cơ động đất.

Theo nhận định của giới địa chất, sông Kỳ Cùng mang đặc trưng của một dòng sông già. Các kết quả nghiên cứu khảo cổ cho thấy con người đã sớm sinh sống và gắn bó với dòng sông này từ thời tiền sử, thể hiện qua các dấu tích cư trú trong những hang động nằm dọc hai bờ sông. Cư dân ven sông chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, Nùng bản địa, bên cạnh đó còn có người Kinh đến sinh sống trong những giai đoạn lịch sử khác nhau.

Dòng sông hiếm hoi chảy ngược từ Việt Nam sang Trung Quốc: Khởi nguồn từ đỉnh núi 1.200m, vận chuyển 628.000 tấn phù sa mỗi năm - ảnh 2
Sông Kỳ Cùng gắn liền với đời sống dân cư, tạo điểm nhấn cảnh quan cho vùng lưu vực. Ảnh: Internet 

Diện mạo của sông Kỳ Cùng thay đổi rõ rệt theo từng đoạn chảy. Ở những khu vực lòng sông mở rộng, mặt nước phẳng, dòng chảy êm đềm len lỏi qua các cánh đồng, tạo nên không gian yên bình, thuận lợi cho việc canh tác và định cư.

Trái lại, tại những đoạn lòng sông bị thu hẹp chỉ còn vài chục mét, dòng nước chảy xiết, uốn khúc mạnh. Có nơi, sông chảy qua các ghềnh đá, hai bên là vách núi dựng đứng, nước tung bọt trắng xóa, tạo nên cảnh quan vừa dữ dội vừa hùng vĩ.

Một điểm nhấn đặc biệt trên dòng Kỳ Cùng là khu vực Kỳ Cùng Thạch Độ, còn được gọi là Bến đá. Tại đây, nhiều tảng đá lớn nằm rải rác, chắn ngang lòng sông và nhô lên khỏi mặt nước. Mỗi khi mực nước thay đổi, dòng chảy va đập vào các khối đá, tạo thành những dải bọt trắng trải dài trên mặt sông, hình thành khung cảnh đặc trưng của đoạn sông này.

Dù không thuộc nhóm những con sông lớn nhất Việt Nam, sông Kỳ Cùng vẫn có lượng phù sa đáng kể. Trung bình mỗi năm, dòng sông vận chuyển khoảng 628 nghìn tấn phù sa, tương đương khoảng 1.080 gram phù sa trong mỗi mét khối nước.

Dòng sông hiếm hoi chảy ngược từ Việt Nam sang Trung Quốc: Khởi nguồn từ đỉnh núi 1.200m, vận chuyển 628.000 tấn phù sa mỗi năm - ảnh 3
Nước sông Kỳ Cùng mang màu đỏ đậm, mang theo lượng lớn phù sa. Ảnh: Internet

Phù sa của sông có màu đỏ sẫm, khiến nước sông trong nhiều thời điểm mang sắc đỏ đậm, thậm chí được nhận xét là đỏ hơn cả sông Hồng. Đáng chú ý, số trận lũ trên sông không nhiều, trung bình khoảng 5 trận mỗi năm, song lũ có thể xuất hiện cả trong mùa khô, thường rơi vào các tháng 3 hoặc 10 dương lịch.

Sông Kỳ Cùng cũng gắn liền với đặc điểm khí hậu mùa đông của miền Bắc, đặc biệt là hoạt động của gió mùa Đông Bắc. Do dòng sông án ngữ trên đường di chuyển của các khối không khí lạnh, khu vực ven sông thường là nơi đón gió mùa sớm và cũng là vùng kết thúc rét muộn hơn so với nhiều khu vực khác.

Với vị trí địa lý và vai trò tự nhiên đặc biệt, sông Kỳ Cùng không chỉ góp phần tạo dựng cảnh quan và điều kiện phát triển cho vùng đất Lạng Sơn, mà còn gắn bó sâu sắc với đời sống lịch sử, văn hóa của địa phương. Bên cạnh sông Kỳ Cùng, mạng lưới thủy văn của tỉnh Lạng Sơn còn bao gồm nhiều sông, suối khác như Bản Thí, Bắc Giang, Bắc Khê, sông Thương, tạo nên hệ thống sông ngòi phong phú của khu vực Đông Bắc.

Tin tức

Tin đọc nhiều